Video

Bạn biết gì về bệnh múa giật, múa vờn?

11/01/2008
Bệnh múa giật (Sydenham) thường xuất hiện sau giai đoạn sốt nhiễm liên cầu khuẩn, hay gặp ở trẻ em 5-15 tuổi, tỷ lệ trung bình nam/nữ là 1/2,5; Bệnh múa vờn ở trẻ em thường do tổn thương não bộ trong thời kỳ chu sản hay do trẻ bị ngạt hoặc vàng da sơ sinh nặng, huyết khối các tĩnh mạch não, chấn thương. Hoặc do các bệnh mắc phải như viêm mạch hay tắc mạch, viêm não - màng não.

Bệnh múa giật (Sydenham) thường xuất hiện sau giai đoạn sốt nhiễm liên cầu khuẩn, hay gặp ở trẻ em 5-15 tuổi, tỷ lệ trung bình nam/nữ là 1/2,5; Bệnh múa vờn ở trẻ em thường do tổn thương não bộ trong thời kỳ chu sản hay do trẻ bị ngạt hoặc vàng da sơ sinh nặng, huyết khối các tĩnh mạch não, chấn thương. Hoặc do các bệnh mắc phải như viêm mạch hay tắc mạch, viêm não - màng não.

Bệnh múa giật

Những yếu tố nguy cơ gây bệnh

Bệnh có liên quan chặt chẽ với sốt do thấp, thường xuất hiện sau giai đoạn sốt nhiễm liên cầu khuẩn cấp một vài tháng. Cơ chế bệnh sinh có liên quan đến quá trình tạo kháng thể: các kháng thể này có phản ứng chéo giữa liên cầu khuẩn và các neuron thần kinh ở Striatum. Những bệnh nhân có tiền sử sốt do thấp có thể phát bệnh muộn khi gặp các yếu tố thuận lợi như dùng thuốc tránh thai, phenytoin, thai nghén.

Biểu hiện của bệnh

Bênh nhân múa giật có các động tác xảy ra đột ngột, vận động không tự chủ, giật cục, không có quy luật, thường tập trung ở ngọn chi, không đối xứng. Đôi khi chỉ biểu hiện như các động tác vụng về trong sinh hoạt; Nhưng có lúc biểu hiện rất mạnh mẽ, vô hướng, rất nguy hiểm. Nhiều động tác múa giật ảnh hưởng xấu đến các cử động bình thường của bệnh nhân, cản trở sinh hoạt hằng ngày hay công việc, bệnh nhân luôn trong trạng thái vận động không được nghỉ ngơi. Khi bệnh nhân ngủ, các động tác giảm, trương lực cơ giảm, nhưng có thể có các động tác múa vờn. Múa giật thường xảy ra sau  sốt nhiễm khuẩn, trong đó 2/3 số ca xảy ra sau khi mắc các bệnh: viêm họng, viêm nội tâm mạc, thấp khớp từ vài tuần đến vài tháng. Lúc đầu là các triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, tinh thần bất an, kích thích; tiếp sau là các động tác múa giật xuất hiện, lúc đầu tựa hồ như các động tác vụng về rồi các động tác xuất hiện nhiều hơn và lan tỏa toàn thân. Các động tác này tiến triển nặng lên trong vòng một tuần sau đó tự giảm dần. Bệnh  diễn  biến  trong vài ngày đến vài tuần. Có khoảng 1/5 số trẻ em có đợt tái phát trong 2 năm đầu bị bệnh.

Điều trị múa giật

Dùng các thuốc nhóm salisilat, kháng histamin, penicillin, corticoid, pyridoxine, acid valproic và kháng dopamin. Bệnh thường thuyên giảm nhanh, tiên lượng tốt nhưng nguy cơ tái phát cao. Khoảng 1/3 số bệnh nhân để lại các di chứng như vụng về, tăng kích thích, sợ sệt.

Bệnh múa vờn

Nguyên nhân thường gặp của múa vờn trẻ em là do thương tổn não bộ ở thời kỳ chu sinh hay ở giai đoạn thơ ấu của cuộc đời, giai đoạn này trẻ thường bị chấn thương, huyết khối các tĩnh mạch não, ngạt  hoặc vàng da sơ sinh nặng, trẻ đẻ thiếu tháng. Ngoài ra còn các bệnh mắc phải như viêm não - màng não, các bệnh viêm mạch hoặc tắc mạch.

Biểu hiện: nhìn chung các động tác bất thường trong múa vờn nửa người thường thấy ở ngón tay, bàn tay, mặt, lưỡi và họng mặc dù nhóm cơ nào cũng có thể bị bệnh. Kiểu thường gặp nhất là sự luân phiên của các động tác duỗi - ngửa và co - sấp của cánh tay và các động tác co duỗi của các ngón tay. Ngón tay cái co và khép bị các ngón khác co lại và khóa chặt khi nắm bàn tay. Các động tác đặc trưng khác là xoay bàn chân vào trong hoặc ra ngoài, mím môi, chun lưỡi, vặn cổ, duỗi cổ, cúi đầu hoặc nhăn nhó. Đó là những động tác cưỡng bức muôn hình muôn vẻ. Đôi khi là sự luân phiên giữa động tác gập đầu vươn cổ, nhắm mắt mở mắt rất mạnh mẽ. Các động tác trong múa vờn chậm chạp hơn trong múa giật, tuy nhiên người ta thấy có tất cả các mức độ trung gian giữa hai chứng bệnh này. Thậm chí có những trường hợp không thể phân biệt được chúng một cách tách bạch, rõ rệt nên gọi là múa giật - múa vờn (choreoathetose). Những vận động của bàn tay chậm hơn bình thường rõ rệt, nếu cố gắng cử động sẽ gây co các cơ đối vận và làm co cơ vận động lan tỏa không cần thiết (gọi là co cứng khi vận động chủ ý). Ở trẻ em hay gặp múa vờn kép, trên lâm sàng thấy hai triệu chứng cơ bản là múa vờn và rối loạn trương lực cơ. Đứa trẻ không bị liệt nhưng không thể giữ vững đầu và thân, đi lại rất khó khăn do rối loạn trương lực cơ, cảm giác bình thường, phần nhiều có giảm trí tuệ song cũng có thể là trí tuệ bình thường. Tổn thương giải phẫu bệnh biểu hiện loạn sản các hạch dưới vỏ, tổn thương chủ yếu thể vân. Về mặt vi thể có những ổ không có tế bào hạch nhưng phát triển quá nhiều các mạng sợi myelin như hình dạng đá vân.

Điều trị: Thường dùng kết hợp thuốc an thần hủy cholin và thể dục liệu pháp. Dạy trẻ làm các công việc tự phục vụ, hướng dẫn trẻ làm các công việc đơn giản. Các cơn múa giật, múa vờn có thể đáp ứng tốt với các thuốc chống động kinh như phenytoin, carbamazepin hay acid valproic. Dạng múa vờn đơn giản có thể điều trị tốt bằng tetrabenazyn, haloperidol hay triaprid.

Phòng tránh bệnh múa giật và bệnh múa vờn

Cần thực hiện tốt các biện pháp sau: Thời kỳ thai nghén các bà mẹ nên khám thai định kỳ 3 tháng một lần để được quản lý thai nghén tốt và tiên lượng cho cuộc đẻ. Những trường hợp có thể đẻ khó cần chọn nơi sinh có trình độ kỹ thuật tốt để bảo đảm cuộc đẻ an toàn, tránh những tai biến đẻ non tháng, ngạt sơ sinh, chấn thương não, viêm não, màng não... Khi trẻ con nhỏ cần theo dõi để khám và điều trị kịp thời, triệt để các bệnh viêm hầu họng do liên cầu khuẩn. Có như vậy mới loại bỏ được các nguyên nhân gây bệnh, tránh cho trẻ không bị mắc bênh múa giật, múa vờn.

(Nguồn tin: Báo Sức khỏe & Đời sống Online)